Thursday, January 18, 2018

Sâm - BS Nguyễn Ý Đức


Nói đến sâm là phải nghĩ ngay tới nước Trung Hoa với vua Thần Nông. Đây là một nhân vật với nhiều huyền thoại, sống cách đây nhiều ngàn năm, vừa là một đấng minh quân vừa là một nhà nông kinh nghiệm, biết thêm về y lý trị bệnh. Nhà vua chỉ dẫn cho dân chúng về cách dùng dược thảo và đã viết một cuốn sách nói về cả trăm thứ cây thuốc mà ông đã khổ công đi đó đây để sưu tầm.    

Theo sách, thì vua Thần Nông là người đầu tiên đã nhận ra công dụng chữa bệnh của một loại rễ cây có hình dạng giống con người, mọc hoang trong rừng. Nhà vua đặt tên cho cây đó là Nhân Sâm. 

Nhân sâm đã được coi như một dược thảo hàng đầu (Sâm, Nhung, Quế, Phụ) ở nhiều quốc gia Á châu như Trung Hoa, Việt Nam, Đại Hàn, và ở Nga. Trong những thập niên vừa qua, nhân sâm bắt đầu được sử dụng ở các quốc gia Âu Mỹ và cũng được khoa học thực nghiệm nghiên cứu về công hiệu chữa bệnh của một thảo mộc mà nhiều triệu người đã và đang dùng, do kinh nghiệm truyền cho nhau. Nhiều nhà bào chế thuốc đã xếp sâm vào nhóm những chất có tác dụng thích nghi (adaptogen) đối với nhiều chức năng của cơ thể và coi sâm như một chất dùng thêm có khả năng tăng cường sinh lực, giảm căng thẳng, ngăn ngừa một số bệnh tật và làm chậm tiến trình lão suy.

Nguồn gốc
Nguyên thủy thì nhân sâm mọc hoang trên rừng núi, dưới bóng mát ở những nơi có khí hậu lạnh như Trung Hoa, Nhật Bản, Đại Hàn, Việt Nam, miền Đông Liên Bang Sô Viết, Bắc Mỹ châu. 

Người Trung Hoa được coi như dân tộc đầu tiên biết sử dụng sâm để trị các bệnh của tuổi già và họ giữ kín cho tới thế kỷ thứ 18 công dụng của sâm mới được các quốc gia Âu Mỹ biết tới. Thoạt đầu, các nhà thảo mộc Tây phương cũng không tin tưởng cho lắm vào công dụng của sâm như người Trung Hoa tả. Nhưng sau khi nhìn thấy tận mắt một số hiệu quả, thì họ tin theo. 

Năm 1716, tu sĩ dòng Tên Petrus Jartoux truyền đạo ở miền Bắc Trung Hoa, viết một tài liệu cho hay sâm có thể mọc ở miệt rừng núi Gia Nã Đại vì môi trường giống nhau. Tu sĩ Lafitau ở Gia Nã Đại bèn cho người khai thác sâm hoang ở chung quanh vùng Montreal và xuất cảng sang Tầu để gây quỹ cho dòng tu. Cũng vào thế kỷ 18, một số nhà thám hiểm người Pháp thấy thổ dân Bắc Mỹ dùng một loại cây hoang để trị bệnh tiêu hóa, họ mang một ít về Âu châu để thử nghiệm và thấy công hiệu. 

Các loại sâm
Theo American Botanical Council thì có ba loại sâm chính: sâm Á châu, sâm Mỹ châu và sâm Siberian. 

1- Sâm Á châu
Thường được gọi là nhân sâm, tên thực vật học là Panax ginseng C.A. Meyer. C.A. Meyer là tên nhà thảo mộc học đã nghiên cứu sâm đầu tiên vào năm 1842. Đây là loại sâm nổi tiếng của Trung Hoa, đã được coi là đứng đầu các vị thuốc bổ (sâm, nhung, quế, phụ), để tu bổ ngũ tạng, làm dịu cảm xúc, bớt náo động, loại trừ chất độc trong cơ thể, làm thị giác tinh tường, làm tăng trí nhớ và tinh thần minh mẫn và nếu dùng liên tục thì sẽ sống lâu. Panax do gốc Hy Lạp pan có nghĩa là tất cả, và alkos là chữa lành, tức là trị bá bệnh; còn ginseng theo nghĩa tượng hình Trung Hoa là “tinh túy của đất trong hình dạng người”. 

Y học Á châu đã dùng nhân sâm từ nhiều ngàn năm. Tây phương biết đến nhân sâm là qua sự nhận xét và giới thiệu của một tu sĩ dòng tên Petre Jartoux vào khoảng năm 1714. Trong khi truyền giáo ở miền Bắc Trung Hoa, vị tu sĩ này thấy dân chúng dùng một loại rễ cây hoang để trị nhiều bệnh rất công hiệu, ông ta bèn viết một bài để giới thiệu với các thầy thuốc ở Âu châu. Từ đó, các nhà nghiên cứu ở Âu châu, Nhật Bản, Liên Xô, Hoa Kỳ đã để tâm nghiên cứu về loại dược thảo có hình người này. 

Nhân sâm có thành phần hóa học như sau: hỗn hợp saponins, tinh dầu panaxen, phytosterol, tinh bột, đường, amino acid, acid phosphoric, vài sinh tố B1, B2 và vài khoáng chất. Hiện nay có khoảng 22 chất saponin được phân loại, gọi là ginsenosides hay panaxosides, là những dược liệu chính của sâm. Hóa chất này có công thức hóa học tương tự như loại kích thích tố mà cơ thể con người dùng để đối phó với căng thẳng của đời sống. 

W.H Lewis cho hay chất triết của nhân sâm có tác dụng làm chậm sự phát triển của một vài tế bào u bướu, có vài tác dụng làm giảm đường trong máu. Nghiên cứu của V.W. Petkov và D. Staneva- Stoicheva ở Bulgarie cho hay nhân sâm có tác dụng kích thích thần kinh trung ương, giảm huyết áp, giảm đường trong máu, kích thích hô hấp, hỗ trợ tế bào thần kinh đáp ứng với stress, tăng hồng huyết cầu và huyết tố, giảm cholesterol. Ng và H.W. Yeung cho hay nhân sâm có công dụng làm giảm thời gian phản ứng với các kích thích thính, thị giác; tăng sự lanh lợi, tập trung trí thuệ; tăng phối hợp giữa thị giác và cử động. Họ cũng cho hay nhân sâm có công dụng như chất antioxidant chống lại một vài bệnh về gan, mắt, vữa xơ động mạch. S. Shibata, O. Tanaka và H. Saito cũng cho rằng sâm làm tăng sự bền bỉ, chịu dựng của cơ thể với căng thẳng các loại, có tác dụng chống kinh phong hạ nhiệt, tăng chức năng bao tử, chống viêm tế bào. 

Bên Đức, chính quyền cho phép nhân sâm được mang nhãn hiệu bán như một thuốc bổ, tăng cường sinh lực khi bị suy nhược, mệt mỏi, khi kém tập trung, và trong thời kỳ phục sức sau bệnh hoạn. Dược thư Liên Xô xuất bản năm 1961 công nhận nhân sâm là vị thuốc chính thức trong y học của Liên bang này. 

Cho tới nay, đã có cả trăm nghiên cứu khoa học về công dụng của nhân sâm. Sự nghiên cứu này cần được tiến hành lâu dài và có hệ thống hơn nữa để có thể xác định giá trị chữa bệnh của loại dược thảo này. 

2- Sâm Mỹ châu: 
Sâm Mỹ châu được tu sĩ Joseph Francois Lafitau khám phá ra cách dây gần ba trăm năm, ở vùng Montreal, Gia Nã Đại, có tên khoa học là Panax quinquefolius. Vị tu sĩ này đã khai thác, xuất cảng rất nhiều sang Trung Hoa từ thế kỷ thứ 18. 

Sâm Mỹ châu mọc hoang ở miền Đông Bắc Mỹ châu, từ Quebec, Ontario xuống Wisconsin, Minnesota, Florida, Alabama, Oklahoma. Không như sâm Á châu bị khai thác triệt để nên còn rất ít, sâm Mỹ châu hiện vẫn còn nhiều và được các quốc gia Hoa Kỳ, Gia Nã Đại coi là cây hiếm quý cần được bảo vệ. 

Sâm Mỹ châu đã được Abraham Whisman ở Virginia bắt đầu trồng từ năm 1870. Hiện nay Gia Nã Đại đứng hàng đầu trong việc trồng và xuất cảng sâm này. Nước Mỹ cũng xuất cảng tới 30% tổng số sâm Mỹ châu trên thế giới. Năm 1995, có tới hơn 700,000 kí sâm trồng và 150,000 kí sâm mọc hoang được xuất cảng từ Hoa Kỳ. Trung Hoa và Đại Hàn dẫn đầu trong việc xuất cảng sâm các loại trên thế giới. 

Sâm Mỹ châu rất được dân chúng Trung Hoa ưa thích vì tính chất bổ âm (âm/dương) của nó, và ngọt dịu hơn sâm Á châu. Theo quan niệm Á châu, sự hài hòa giữa âm và dương trong vũ trụ và trong con người đưa tới sự ổn định môi trường và sự khỏe mạnh của con người. Sâm Á châu có nhiều dương tính, nóng, làm hưng phấn cơ thể, làm tăng cường sức lực. Ngược lại, sâm Mỹ châu có nhiều âm tính, lạnh, làm giảm căng thẳng, làm mạnh nội tạng. 

Sâm Mỹ được thổ dân ở đây dùng để chữa chẩy máu cam, khó thở, tăng cường sự mầu mỡ sinh sản nữ giới, làm tăng trí tuệ, sức khỏe thể xác, chống mỏi mệt. Vợ một tù trưởng có thai kể cho chồng hay là trong giấc mơ ban đêm, thần nhân nói nếu muốn sanh không đau thì cứ ngậm một miếng củ sâm hoặc uống một chút nước lá sâm. 

Sâm Mỹ châu đã được ghi vào sách the United States Pharmacopeia từ năm 1842 tới 1882. Sâm này cũng có hóa chất như nhân sâm đặc biệt là hỗn hợp gisenosides. Sâm, nói chung, vẫn chưa được hội nhập vào kỹ thuật trị liệu ở Hoa Kỳ, mặc dù rất nhiều người đang dùng dược thảo này. Lý do là chưa có nhiều nghiên cứu khoa học về sâm Mỹ như nhân sâm, và có nhiều ý kiến khác nhau về sâm. Thực ra, công dụng của sâm thay đổi đôi chút với loại sâm, thời gian hái sâm, bộ phận cây sâm, cách pha chế, cách dùng và phân lượng dùng. 

E.J Staba và S.E. Chen, trong “An Overview of Ginseng Chemistry, Pharmacology and Anti-tumor Effects” đã ghi nhận là với phân lượng nhỏ, sâm làm kích thích hệ thần kinh, nhưng phân lượng cao lại làm dịu; chống mệt mỏi, thích nghi được với các căng thẳng, chống nhăn da và làm tế bào da mau sinh sản; chống lại độc tính của chloroform, amphetamines; làm tăng trọng lượng của túi tinh dịch và nhiếp hộ tuyến, tăng tinh trùng; làm tăng kí với lượng nhỏ nhưng giảm kí với lượng lớn. Việc nghiên cứu công dụng của sâm ở Hoa kỳ còn mới mẻ và chưa hội nhập vào với phương pháp trị bệnh thực nghiệm. Theo một vài tác giả, cần có những quan tâm mạnh hơn nữa nhất là kết quả việc dùng sâm ở con người với lợi điểm cũng như tác dụng không tốt của sâm. 

3- Sâm Siberian: 
Tên thực vật học là Eletherococcus senticosus, sâm này có nhiều ở Đông Bắc Trung Hoa, kế cận với Nhật và Đại Hàn và miền Đông Nam nước Nga. 

Tiến sĩ Stephen Fulder cho rằng đây không phải thuộc họ sâm nhưng được gọi như sâm vì nó tác dụng tương tự, đã được người Nga dùng thay thế cho nhân sâm quá đắt và khó kiếm. Hoạt chất của sâm là chất eleutherosides, có công dụng giống như ginsenosides của sâm Á châu hoặc sâm Mỹ châu. 

I.Brekham, một chuyên gia người Nga về sâm, cho binh sĩ uống sâm chạy thi với nhóm khác uống thuốc lừa (placebo), thì nhóm dùng sâm chạy mau hơn và lâu hơn. Các nhà khoa học Nga xếp sâm vào nhóm thực vật làm tăng sức đề kháng không đặc biệt, giúp cơ thể có thể chịu đựng mệt mỏi, bệnh tật, tuổi già, làm việc cực nhọc, vượt qua được các bệnh thông thường như cảm lạnh. 

Năm 1961, một hội nghị về sâm đã diễn ra ở Lenigrad, Liên Sô. Năm sau, sâm Siberian được chính quyền Sô Viết chấp thuận cho dân chúng dùng như loại thuốc bồi bổ sức khỏe, thích nghi với căng thẳng của đời sống và chữa các bệnh như cao huyết áp, tiểu đường, viêm phế quản kinh niên, bệnh thần kinh tâm lý, vữa xơ động mạch máu. 

Theo J. A. Duke và E.S. Ayensu trong Medicinal Plant of China, thì loại sâm này được dân chúng ở vùng Đông Bắc Hoa Lục dùng để chữa các bệnh phong khớp xương, viêm cuống phổi, bệnh tim, đồng thời nếu dùng liên tục, để tăng cường sức khỏe, làm ăn ngon miệng, giúp trí nhớ tốt, kéo dài tuổi thọ. 

Chính quyền y tế Đức quốc cũng coi sâm Siberian có công dụng như nhân sâm để giúp cơ thể khỏe mạnh, giúp mau hồi phục sau bệnh hoạn cũng như gia tăng sự bền bỉ trong lao động trí óc, chân tay. 

Theo nhiều nhà chuyên môn, sự khác biệt của ba loại sâm chính này như sau: 

- Sâm Á châu có tính cách kích thích, làm nóng cơ thể, tăng cường sức khỏe, được dùng ở người lớn tuổi, người suy yếu tổng quát, người cần dùng sức lao động và sự bền bỉ . 

- Sâm Mỹ có hàn tính, thoa dịu, thích hợp cho người hay năng động, nhưng cũng giúp cơ thể tăng cường dẻo dai, sức chịu đựng. 

- Còn sâm Siberian thì dung hòa giữa hai loại trên, không ôn quá mà cũng không hàn quá, và có cùng đặc tính. 

Ngoài ra còn các loại sâm khác như sâm Brazilian, sâm Angelica sinensis, sâm Acanthopanax sessiliflorus. Giáo sư Đỗ Tất Lợi, trong tác phẩm Những Cây Thuốc và Vị Thuốc Việt Nam còn kể thêm nhân sâm Việt Nam, Đảng sâm có ở quận Thượng Đảng, Trung Quốc, ở Cao Bằng, Lạng Sơn, Việt Nam; sâm Bố Chính ở Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Bình Việt Nam; Thổ Cao Ly sâm, Sa sâm. 

Trồng sâm
Sâm được trồng từ hạt giống của cây sâm khỏe, tốt đã mọc từ 6, 7 năm trở lên. Sâm không thể trồng như trồng lúa. Trồng sâm cần thời gian lâu để sâm mọc. Hạt giống sâm được chôn sâu dưới đất mầu mỡ, không có nước ứ đọng, dưới bóng mát. Bên Trung Hoa người ta dùng phân xanh và khô dầu để bón, tránh dùng phân bắc và nước tiểu. Âu Mỹ dùng phân hóa học và thuốc sát trùng để diệt nấm độc ăn hại sâm. 

Cứ đến mùa Đông thân lá sâm héo tàn, nhưng khi Xuân đến, cây nẩy chồi từ củ sâm nằm sâu dưới đất. Khoảng 6, 7 năm sau đào sâm lấy củ. Củ sâm được chế biến, sấy khô rồi đóng hộp. Riêng những củ to thường được hấp trước khi sấy khô để giữ tinh túy của sâm. Sâm mọc hoang có khi lâu đời cả mấy chục năm trong rừng gỗ lớn nên rất đắt và quý. Nhưng số sâm mọc hoang mỗi ngày một khan hiếm vì nhiều người đi tìm lấy. Đa số sâm bán trên thị trường bây giờ là sâm trồng. Việc trồng sâm đã được nhiều quốc gia thực hiện, nên hiện nay trên thị trường có đủ loại sâm. 

Phần chính làm thuốc của cây sâm là khúc củ sâm, mầu vàng sậm, có nhiều rễ nhánh nhỏ, nằm sâu dưới đất. Lá sâm có năm cánh, với một bông hoa nhỏ mầu xám lạt nằm ở cuống lá; thân cây gắn trên củ sâm nằm sâu dưới đất. Thân cây sâm thường héo chết vào mùa Đông, để rồi mọc trở lại từ củ sâm vào đầu mùa Xuân. Toàn cây cao độ 60 phân. 

Lựa sâm
Trên thị trường có rất nhiều loại sâm, nhưng thường thấy nhất và nhiều người mua là hồng sâm và bạch sâm. Hồng sâm là những củ to, mập, dáng đẹp, giống hình người còn bạch sâm nhỏ hơn, trắng và khô. Sau khi đào, sâm được rửa sạch, phơi sấy, và đóng hộp: hồng sâm trong hộp gỗ, bạch sâm trong hộp giấy. Ngoài ra còn sâm bách chi (rễ phụ), nhân sâm tu với rễ nhỏ như râu tóc, sâm nhị hồng với rễ nhỏ hơn nữa mọc ngang từ rễ chính ra. 

Sâm Mỹ thường được xuất cảng qua Á châu và rất được ưa chuộng. Còn ở Mỹ thì lại có nhiều sâm nhập cảng từ Trung Hoa, Đại Hàn, Nhật Bản. Nổi tiếng trên thế giới vẫn là sâm Đại Hàn và sâm Trung Hoa. 

Sâm càng to càng tốt vì sống lâu năm dưới đất, hút nhiều chất dinh dưỡng nên khỏe hơn. 
Hồng sâm tốt hơn bạch sâm. 
Sâm từ Đại Hàn là tốt nhất rồi dến sâm từ Trung Hoa rồi Nhật Bản. 
Khi nếm, sâm tốt có vị hơi đắng nhưng ngọt dịu. Sâm mà không có vị gì là sâm không tốt. 
Củ sâm tốt hơn râu và lá sâm. 

Cách thức dùng sâm
Có nhiều cách dùng sâm: 
1. Thái mỏng rồi ngậm sâm trong miệng cho tới khi mềm tan.. 

2. Nấu sâm trong ấm sành, ấm thủy tinh độ một giờ rồi uống nước sâm. Sâm nấu như vậy có thể giữ trong tủ lạnh rồi uống dần mỗi ngày. Vì sâm khá đắt, nên có thể nấu nước thứ hai mà sâm vẫn còn hương vị. Tránh dùng ấm kim loại sợ kim khí vô hiệu hóa hoạt chất của sâm. 

3. Ngâm sâm trong rượu, nhấm nháp dần dần. Ngâm càng lâu, rượu càng ngon. 

4. Sâm chế biến thành bột hòa tan trong nước sôi, uống như cà phê hay trà. 

5. Sâm viên uống như các thuốc viên khác. Kỹ nghệ chế sâm viên hiện nay khá phổ biến và chính xác, vì phân lượng hoạt chất chính trong mỗi viên thuốc sâm đều như nhau. 

6. Sâm bốc chung với các vị thuốc, sắc lên rồi uống nước thuốc. 

7. Sâm miếng thái mỏng nấu thành súp với thịt hoặc gạo. 

An toàn của sâm
Một câu hỏi thường được nhiều người nêu ra là sâm có an toàn không? 
Giáo sư Brekhman thuộc Institute of Biologically Active Sciences bên Nga cho hay, để có ảnh hưởng không tốt, con người phải dùng cả mấy kí lô sâm một lúc. 

Tính cách an toàn của sâm chưa bao giờ bị cơ quan Quản trị Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) nghi ngờ và cơ quan này đã cho sâm được bán tự do vì các nghiên cứu cho hay sâm không có tác dụng nguy hại cho người dùng. 

Sâm đã được ghi vào danh bạ y dược tại các nước ở Âu châu và được công nhận như một thực phẩm dùng thêm rất an toàn. 

Tuy nhiên, cũng như dược phẩm khác, khi dùng sâm nên theo chỉ dẫn của lương y hay nhà bào chế. 

Áp dụng thực tế
Sâm đã được dùng ở các nước Á châu từ nhiều ngàn năm và đang được y học hiện đại nghiên cứu, sử dụng. Cũng như các dược thảo khác, tác dụng của sâm nhẹ nhàng, thấm từ từ nhưng kéo dài chứ không mau, mạnh như Âu dược. 

Theo Đông y, sâm không phải là thứ để chữa lành một bệnh riêng biệt nào mà được coi như chất bồi bổ sức khỏe, duy trì sinh lực và kéo dài tuổi thọ. Sâm rất công hiệu khi cơ thể suy nhược, dưới nhiều căng thẳng thể xác và tâm thần, phục hồi sinh lực sau khi bị trọng bệnh... 

Sự dùng sâm thay đổi tùy theo điều kiện cấu tạo cơ thể và sức khỏe của mỗi cá nhân. Theo kinh nghiệm, nếu muốn tăng cường sinh lực chung thì loại sâm nào cũng như nhau. Người trên 45 tuổi nên dùng sâm Á châu vì sâm này kích thích mạnh; dưới tuổi 45 còn trai tráng có thể dùng hai loại sâm ôn hòa kia. Người cần sức lao động cao thì sâm Á châu giúp bền bỉ, sung sức hơn; nữ giới thích hợp với sâm Mỹ châu còn nam giới thì sâm Á châu lại tốt. 

Đấy chỉ là gợi ý. Trước khi dùng, nên tham khảo ý kiến người có hiểu biết về món dược thảo này. Cũng như với các dược thảo khác, ta nên bắt đầu dùng với phân lượng nhỏ rồi tăng dần để dò sức chịu đựng của mình đồng thời lượng định công hiệu và tác dụng không muốn của thuốc.


BS Nguyễn Ý Đức

Thiên Nhiên Qua Con Mắt X-Ray - Quá Đẹp!

Cỏ cây hoa lá, động vật được Arie van't Riet chụp bằng tia X-Ray, sau đó chỉnh màu, trở thành những bức ảnh nghệ thuật.




















Arie vốn là tiến sĩ nghiên cứu vật lý bức xạ người Hoà Lan. Ông chụp hình thiên nhiên bằng tia X-quang, sau đó số hóa hình ảnh. Bước cuối là dùng phần mềm photoshop để tô màu lên các bức ảnh đen trắng. 

Lam Thu
Ảnh: x-rays

Giờ Còn Chút Nợ Duyên Nầy - Đỗ Công Luận

Wednesday, January 17, 2018

Phiếm: Nhà Toàn Con Gái !

Ông Bố kể chuyện "dở khóc dở cười" khi nhà sinh toàn con gái. 

Tôi có 2 đứa con, nhưng buồn thay, toàn là con gái! Còn cái nhà hàng xóm - cách nhà tôi mỗi cái dậu mồng tơi - cũng có 2 đứa, mà lại toàn con trai. Thật mỉa mai!  

Có con trai đúng là sướng thật! Những ngày lễ tết, bố con trở thành bạn nhậu, nâng chén cà kê - chứ con gái, chúng nó cắm đầu hùng hục ăn, vừa ăn vừa lèo bèo: "Bố uống ít thôi! Ăn cơm, ăn thịt đi!".

Có con trai cũng rất tiện: đi tắm quên quần sịp, gọi con trai nó mang cho, rồi mở toang cửa nhà tắm, hiên ngang đón lấy - chứ con gái thì phải nép sát vào tường, cửa hé tin hin, thò vài đầu ngón tay ra ngoài, rụt rè nhón lấy.

Có con trai cũng yên tâm: trộm cướp vào nhà, mấy bố con nhảy ra đánh hội đồng - chứ con gái, vừa một mình mình kháng cự, vừa lo nếu mình gục, con gái mình sẽ bị chúng nó hiếp dâm...
Nói vậy thôi, chứ tôi và con gái cũng có một thứ có thể dùng chung, ấy là cái dao cạo râu.

Hôm trước, tìm cái dao cạo râu mãi không thấy đâu, tôi cáu, quát um lên, thì đứa con gái lớn chạy từ trong buồng ra, cầm cái dao cạo trên tay, bảo: "Con trả bố đây!".
Tôi nhìn chiếc dao cạo thì nhăn mặt hỏi: "Mày vừa cạo cái gì đấy?". "Dạ! Con cạo lông nách thôi mà!". "Đúng là lông nách chứ?". "Dạ đúng! Con thề!". Là bố con, chẳng lẽ nó thề mình lại không tin...

Nhà toàn đàn bà con gái, nên cái dây phơi, dài từ đầu đến cuối sân, lúc nào cũng lủng lẳng toàn xì-líp với coóc-sê, hồng đỏ xanh vàng, đủ cả!
Nhiều khi vội đi, không để ý, bị xì-líp nó đập vào mặt, coóc-sê nó quấn quanh đầu.

Rồi những khi rầu rầu, bên ấm trà tầu, nhìn cái mớ xì-líp coóc-sê ấy phất phơ theo gió hiu hiu, hệt như những chiếc lá bàng già nua lay lắt trên những cành khô gầy guộc khẳng khiu trong buổi chiều đông giá rét...
Buồn chẳng để đâu cho hết...

Chiều nay, tôi qua bên nhà lão hàng xóm chơi, tiện thể xin đoạn dây thép, về gia cố lại cái dây phơi (chắc treo nhiều xì-líp coóc-sê quá nên nó chuẩn bị đứt đến nơi).

Vào nhà, tôi thấy lão hàng xóm một mình nằm rầu rĩ trên giường, mặt quay vào tường, rên hừ hừ, nghe rất đáng thương!
Tôi hỏi sao thế, lão bảo bị cảm cúm mấy hôm nay, vợ lại vắng nhà, chả ai mua thuốc, nấu cháo cho ăn, nên mệt lả...
- Ông ốm mà vợ ông còn đi đâu? - Tôi hỏi bằng giọng đầy bức xúc.
- Vợ lên Hà Nội, chuộc xe cho thằng cả!
- Nó lại cắm à? Mới tuần trước thấy vợ ông lên chuộc rồi mà?
- Tuần trước là nó cắm để bắt trận Ngoại hạng Anh, tuần này, nó cắm để bắt trận C1!
- Thế bao giờ vợ ông về?
- Vợ tôi định về hôm nay, nhưng nghĩ đã là thứ 5 rồi, hai ba hôm nữa lại là cuối tuần, lại có giải Ngoại hạng Anh, nên ở lại luôn, đỡ mất công đi đi về về!

Tôi thở dài, nhìn quanh, rồi hỏi thế thằng út nhà lão đâu, thì lão ngán ngẩm lắc đầu, bảo rằng nó vừa về cạy tủ, vơ hết tiền của lão mang đi chơi game.

Lão tiếc tiền lao tới, ôm chặt nó lại, nào ngờ, nó hất tay lão ra, túm lấy cổ áo lão, rồi giơ nắm đấm lên dọa.
Lão điên tiết quá, quát to: "A! Thằng này láo! Mày định đánh cả bố mày hả? Đây! Bố đứng im đây! Mày có giỏi thì đánh đi!".

Kể đến đó, lão dừng lại, nhăn nhó véo một miếng bông gòn, chấm chấm lên cái môi sưng vều còn đương rướm máu.
Đúng lúc này, có tiếng xe máy rú ga inh ỏi ngoài ngõ. Tôi hốt hoảng ngó cổ ra, thì thấy phải đến chín mười gã cởi trần, xăm trổ, ngồi trên bốn năm cái xe máy hùng hổ phóng vào: đứa vác dao, người cầm gậy, kẻ khiêng quan tài...
Chúng vứt xe giữa sân, quẳng cái quan tài ngay trước cửa kêu cái "rầm", rồi quát tháo ầm ầm:
- Thằng con trai mày vay tiền của tao, giờ nó trốn biệt rồi! Mày giấu nó ở đâu, đưa ra đây mau, không tao chém chết cả nhà!

Tôi hoảng quá, mặt mũi tái nhợt, tay chân rụng rời. Thế nhưng lão hàng xóm thì chả có biểu hiện gì cả. Lão bình thản đi ra, đứng trước mặt bọn chúng, chắp tay trước ngực, rồi quỳ thụp xuống cạnh cái quan tài, giọng bi ai:
- Trăm sự nhờ các anh! Em cũng đang muốn tìm thằng con em để chém chết nó đi đây, mà tìm hoài không thấy! Giờ có các anh tìm và chém nó giúp em thì tốt quá rồi! Em xin đa tạ! 

Chém nó xong em cũng sẽ tự tử luôn! Đang lo không có tiền mua quan tài thì các anh lại mang đến cho! Đội ơn các anh quá!
Nói rồi, lão hàng xóm nhảy luôn vào quan tài, nằm duỗi dài. Mấy thằng cởi trần xăm trổ ngơ ngác nhìn nhau, rồi chúng lao tới chỗ quan tài, ra sức lôi lão hàng xóm ra.

Nhưng lão hàng xóm chơi lầy, cứ bám chặt, nằm lì ở đó. Thấy thế, thằng cầm đầu của lũ xăm trổ mới tiến tới, chắp tay trước ngực, rồi quỳ thụp xuống cạnh cái quan tài, giọng bi ai:
- Em xin anh! Anh làm ơn ra ngoài giúp để bọn em còn vác quan tài đi nhà khác, kẻo tối không xong việc thì về đại ca bọn em chém chết ạ!
Khi ấy, lão hàng xóm mới chịu lồm cồm bò ra. Mấy thằng xăm trổ vừa nãy hung hăng là thế, giờ ngoan ngoãn, cum cúp như mèo, lầm lũi bỏ đi.

Ấy vậy mà lũ đó vừa đi được một lúc thì đã lại nghe tiếng xe máy rú ga ngoài ngõ, tôi lại hốt hoảng quay ra: may quá, không phải bọn chúng, mà là thằng con út lão hàng xóm vừa đi chơi game.
Tuy vậy, vẻ mặt thằng đó cũng hung hăng không kém lũ xăm trổ vừa rồi. Nó vứt cái xe đổ cái "rầm" ngoài sân, hùng hổ chạy vào nhà.

Thật kỳ lạ, lúc này, tôi lại rất bình thản, còn lão hàng xóm thì đâm ra cuống cuồng, hoảng loạn. Tôi hỏi sao vậy, lão bảo: "Bọn xăm trổ chỉ dọa thôi! Còn thằng này, nó làm thật đấy!".
Quả đúng vậy! Lão hàng xóm vừa nói dứt lời thì thằng con lão đã xông tới, đè nghiến lão xuống giường, ghì chặt chân, ấn chặt cổ lão...
- Ông già! Biết điều thì nôn tiền ra!
- Mày vừa cạy tủ lấy hết rồi! Ở đâu nữa mà nôn?
- Ông tưởng tôi ngu à? Trong tủ đó chỉ là vài đồng lẻ thôi! Tôi biết ông còn tiền! Mau nôn ra!

Lão hàng xóm bị ấn cổ thì hình như khó thở, mặt lão tím bầm. Rồi bất ngờ lão vùng lên, hất ngửa thằng con ra, cắm đầu chạy thẳng.
Thằng con lão sau tích tắc ngỡ ngàng thì cũng lập tức chồm dậy, tiện tay vơ luôn cái gậy, hùng hục đuổi theo...

Còn lại mỗi mình, tôi chán quá, lững thững đi về. Vừa tới nhà, tôi đã nghe tiếng ai đó thều thào gọi tôi vọng ra từ gian buồng.
Tôi lò dò bước vào: thì ra là lão hàng xóm, lão đã may mắn cắt đuôi được hai thằng con, trốn vào trong đó, nằm bẹp dí chỗ góc buồng,...
Tôi vội vàng bế lão lên giường. Mấy ngày ốm mệt, không ăn uống gì, bị đấm sưng mồm, lại vừa vẫy vùng, chạy thục mạng, nên có lẽ sức lão đã kiệt.

Đứa con gái lớn nhà tôi, thấy quần áo lão bẩn, hôi hám quá, lấy đồ của tôi cho lão mặc, rồi đem mớ quần áo bẩn của lão ra giếng giặt; đứa út xuống bếp bắc nồi, nấu vội cho lão bát cháo cầm hơi...
Đón bát cháo từ tay con bé út, lão run rẩy đưa lên miệng, húp soàn soạt một hơi hết sạch. Từ khóe mắt lão chảy ra hai hàng lệ long lanh.
Tôi hỏi: "Sao thế? Cháo cay quá à?, thì lão lắc đầu, bảo: "Không, cháo ngon! Chưa bao giờ được ăn bát cháo nào ngon như thế!".

Xưa, Chí Phèo ăn xong bát cháo hành của Thị Nở thì bừng tỉnh, thoát khỏi những cơn say triền miên, u muội, nghe được tiếng chim hót, tiếng thuyền chài đánh cá trên sông, và dâng lên trong lòng tình yêu cuộc sống.

Nay, người ăn cháo là lão hàng xóm, còn tôi lại là người bừng tỉnh. Tôi bước ra sân, gió nhè nhẹ, nắng lung linh, khiến những chiếc xì-líp, coóc-sê trên dây phơi như ánh lên, phấp phới, dập dình theo gió rung rinh...
Chưa bao giờ thấy mớ xì-líp, coóc-sê nào đáng yêu như thế!

Theo Khám phá

Vô Duyên Từ - Youtube Marian Tran

Tiên Sư Anh Tẹc Nét - Nguyễn Bá Chổi (Danlambao)


Cuối năm ngồi tính sổ, thấy chả có gì đáng cho ông khen. Chỉ toàn chuyện đáng chửi. Đáng chửi nhất, đối với ông, là thằng Anh Tẹc Nét. 

“Như Trời đất sinh ra”, đã có Lưới Trời lồng lộng mai mốt ông chưa biết dông đường nào cho thoát, người lại còn sinh ra Lưới Mạng Toàn Cầu - bọn Tây gọi là Anh Tẹc Nét - để làm khổ thân ông.

Ông đang mồ yên mả đẹp, bỗng dưng treo lên giữa trời, lồ lộ những điều ông dấu diếm, ông xạo ke, ông phét lác quá cỡ thợ mộc xưa nay, ngót nghét trăm năm chứ nào phải ít. Tiên sư Anh Tẹc Nét, mày chơi ông cạn tàu ráo máng. Tội mày lấy hết trúc Trường Sơn làm bút, lấy sạch nước Biển Đông kể cả vùng nay đã quà hữu nghị cho Anh Hai làm mực viết cũng không xong, và trí nhớ của ông cũng giới hạn, nhơ đâu mổ đến đó. 

Cha ông đang làm phó bảng vì ghét thực dân Tây mà từ quan, khiến ông cũng đâm ra căm thù nó mà bỏ học để ra đi tìm đường kíu nước. Thế mà mày, thằng Anh Tẹc Nét, làm rùm beng trên mạng rằng cha ông vì say rượu, đánh chết dân nên bị mất chức, còn ông mất chỗ nương thân phải nghỉ học ra đi tìm đường kíu đó; mày lại còn vớ đâu ra cái đơn ông xin thằng Tây cho học trường Bảo Hộ để sau này ra làm quan phục vụ cho nước Pháp, lại còn xin cho cha ông trở lại làm việc cho chính quyền bảo hộ. 

Ông một đời vì nước vì non, không tơ vương mùi đời, quyết ăn ở đồng trinh sạch sẽ, không hề biết cái lá đa của đàn bà nó mọc ngược hay mọc xuôi, nằm ngang hay nằm dọc, nó mọc sau ót hay vắt chéo nơi thắt lưng, hay dấu dưới tóc trên đỉnh đầu. Thế mà mày, thằng Anh Tẹc Nét, chưng lên tên tuổi hình ảnh đủ khuôn mặt gái gú bảo có liên hệ tình cảm đến ông, lớp vợ đồng chí, lớp con gái Nga, gái Pháp, lại còn lấy vợ Tàu cưới hỏi  đàng hoàng rồi bỏ, lớp phục vụ trong hang Pắc Bó phòi ra Cu Mạnh, lớp đưa về Hà Nội chơi có con rồi cho bóp cổ chết quăng thây ra đường giả làm xe cán, con thì đem cho Vũ Kỳ nuôi nay còn sống ở Hà Nội … 

Ông vốn khiêm nhường dường ấy nhưng được nhiều người ái mộ viết sách ca ngợi, như “Cuộc đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch” của Trần Dân Tiên, hay “Vừa đi vừa kể chuyện” của T. Lan v.v… Thế mà mày, thằng Anh Tẹc Nét một hai cứ khư khư chứng minh rằng thì là Trần Dân Tiên và T. Lan chính là ông. 

Thôi, nếu kể ra cụ thể từng tội của ông, à quên, của mày, thằng Anh Tẹc Nét thì bao giờ cho xong, và cũng chuyện thừa, vì đại bộ phận người Việt Nam đều biết. Ông chỉ kể sơ qua tên những “ổ chứa” nội dung chống phá Kách Mạng mà mày phổ biến, treo lơ lửng giữa trời cho thiên hạ xem vô tội vạ. 

Đó là những Đêm Giữa Ban Ngày, Mặt Thật, Hoa Xuyên Tuyết, Bên Kia Bờ Ảo Vọng, Dắt Tay Nhau, Đi Dưới Tấm Bản Chỉ Đường, Giọt Nước Trong Biển Cả, Gửi Mẹ Và Quốc Hội, Chuyện kể Năm Hai Ngàn, Kẻ Bị Vạ Tuyệt Thông, Hồi Ký Của Một Thằng Hèn, Đi Tìm Cái Tôi Đã Mất, Cải Cách Ruộng Đất 50 Năm Nhìn Lại, Bên Thắng Cuộc, Đèn Cù... toàn là do những người xuất thân từ cái lò CS hay phục vụ cho CS, chứ nào phải bọn Ngụy gì cho cam! 

Tại mày mà ông ký công hàm dâng biển đảo năm 1958, Hội nghị Thành Đô 1990, ông bị “bắt ngủ” với gái Tàu để đẻ ra con lai làm con tin, ông bắt bằng một bầy cháu thiếu nhi mặc đồ cụt cỡn trong trời rét căm căm cầm cờ Tàu 6 sao để đón tiếp chủ tịch Tập Cận Bình cho phải đạo bầy tôi, mày cũng phóng lên cho dân biết mà chửi tiên sư ông. 

Nói chung, nói túm gọn: ông bảo ông đi tìm đường cứu nước, mày lại chứng minh ông đi tìm đường phá nước. Ông nói ông đánh Mỹ cứu nước, mày lại quả quyết nước ông cứu đây không phải nước VN mà nước Tàu, vì mày dẫn chứng lời Lê Duẩn “ta đánh Miền Nam là đánh cho ông Liên Xô và ông Trung Quốc mà ông không thể chối cãi được. Rồi ông giải phóng Miền Nam, mà lại phản bác rằng, Miền Nam bị phỏng hai hòn với lý luận là sau Tháng Tư 1975, hàng triệu người chạy nhào xuống biển, thà làm mồi cho cá hay hải tặc hãm hiếp còn hơn là rát chịu không thấu. 

Bố khỉ, trời đã sinh ra Lưới Trời lồng lộng, ông đang lo mai mốt biết dông đường nào, thằng đế quốc Mỹ lại sinh ra Anh Tẹc Nét khiến ông đang ngôi đây mà cái mặt ông đã phải như cái mâm, cái thớt, vừa lem luốc nhọ nồi. 

Tiền sư Anh Tẹc Nét, tội mày to ông không ôm xiết. Sang năm mới 2015 này, mày sẽ biết tay ông. 


Chia Buồn - TTB


Từ trời Bỉ nhận tin buồn A Ý
Đã định cư vĩnh viễn chốn quê trời 
Trần gian trả lại cho đời 
Và cho con, cháu cả trời tiếc thương !..
Cho A Chế gởi chút niềm riêng
"Phân ưu  cùng toàn thể gia đình,
Với lời kinh nguyện tâm tình xẻ chia "

TTB
13/1/2018

Thương Tiếc Cụ Bà Ong Ngân Kiều - Trầm Vân

Ngày Má Mãn Phần - Người Phương Nam


Chuyện đời có ai biết được ngày mai, có ai lường trước được chuyện gì sẽ xảy ra trước đó vài giây, một phút hay một giờ. Có ai ngờ rằng mới vừa gặp nhau đây, nói nói cười cười mà qua ngày sau lại chia lìa vĩnh viễn không kịp trối trăn...

Chúa nhựt tuần rồi, tôi đi thăm má, mang đôi giày mới mua khoe với má, hỏi má màu này coi được không. Má nói đẹp lắm, hạp với màu chân tôi. Tôi nói tôi thích màu đen cho dễ mặc đồ nhưng vì chỉ còn có màu này mới có size vừa cho tôi. Rồi tôi hỏi má, hôm qua em Lan, em tôi cho hay là má bị đau bụng, bữa nay má đỡ chưa. Má nói, con Lan cho má uống hai thứ thuốc rồi mà không bớt, đau kỳ cục lắm, không phải cái kiểu ăn không tiêu hoặc đầy hơi mà nó cứ quặn lên từng hồi làm má ngồi dậy không muốn nổi. Hôm qua tới giờ má chỉ ăn cháo trắng chớ có dám ăn cái gì khác đâu.  

Qua sáng thứ hai, em Lan đưa má đi bác sĩ. Bác sĩ khám không ra bịnh nên bảo vào nhà thương. Ở nhà thương, người ta làm CT scan ổ bụng mới phát hiện má bị sạn mật, cục sạn to lớn hơn bình thường làm nghẽn cuống mật gây nhiễm trùng bao tử, thận, gan trầm trọng khiến cái bụng trương lên như là úp thúng.

Người ta truyền nước biển và trụ sinh loại mạnh cho má, má bị phản ứng thuốc ói mữa không ngừng dù được cho uống thuốc chống ói. Sau đó má bị nghẹt đàm, thở không được, sắc mặt tím ngắt. Họ hút đàm cho má, má thở lại được và có vẻ khỏe lên. Lúc đó là đã quá nửa đêm, chị em chúng tôi theo má từ trưa tới lúc đó đã quá mệt nên cùng nhau đi về. Về nhà mới tắm gội xong, tóc tai chưa kịp ráo thì nhà thương gọi báo cho hay má làm mệt, mực oxy xuống thấp, có thể đứt thở bất cứ lúc nào. Chúng tôi lập tức trở vô thì thấy má đã hôn mê, người ta đưa má qua ICU (Intensive Care Unit). Hai đứa cháu bật khóc ròng ròng gọi ngoại ơi ngoại à, đứa thì nói ngoại nói sẽ dạy con làm chuối chưng, đứa thì nói ngoại muốn đi dự lễ tốt nghiệp của con, coi con đội nón nghe mà đứt ruột. Em Lan vừa khóc vừa lay má nhè nhẹ nói bên tai má, má ơi má niệm A Di Đà Phật để được bình an về bên Đức Phật đi má. Má tôi chợt choàng tỉnh, thều thào niệm Phật theo Lan một hồi như cái máy rồi lại chìm vào hôn mê. Chúng tôi ở đó với má cho tới sáng. Bác sĩ lại thăm, nói rất tiếc không cứu được vì nội tạng của má đã nhiễm trùng quá nặng, tuy nhiên họ vẫn tiếp tục truyền nước biển và trụ sinh cho tới khi nào cơ thể má buông xuôi mà theo họ nghĩ thì chỉ trong vòng hai ngày nữa là tối đa.  





Họ dời má vào một phòng riêng để thân nhân có thể tụng niệm hay chuyện trò riêng tư với má. Họ nói rằng dù má trong tình trạng hôn mê, nhưng trong tiềm thức vẫn nghe và nhận ra được ai đang nói chuyện với mình. Cứ nói nhiều vào thử coi má có tỉnh lại hay  không.

Chiều hôm sau, ông em rể chở ba vào thăm má lần cuối, giây phút sau cùng  mới đau đớn làm sao! Nhìn dáng ba thật đau khổ, ba già sọm, gầy gò run run nắm lấy tay má  nói "bà ơi, tui vô thăm bà nè, bà rán ăn, rán uống thuốc cho mau mạnh rồi về nhà với tui nghe bà". Ba tôi già yếu, lưng còng, đầu gối cứng đơ khó xê dịch, tai điếc, mắt đã mù một bên, ba như ngọn đèn sắp cạn hết dầu, tưởng rằng sẽ tắt trước má nhưng ai ngờ. 

Lúc đó chúng tôi vẫn chưa cho ba biết là má không qua khỏi, nhưng có lẽ ba cũng cảm giác được rằng má sẽ không về nữa rồi nhưng ba vẫn cố tự gạt mình. Chúng tôi đứa nào cũng nước mắt như mưa, thương cho má một, thương cho ba mười, má chết thì đã yên phần, còn ba rồi đây  làm sao chịu nổi những ngày tháng không có má bên cạnh. Ba má tôi như hình với bóng suốt 66 năm nay từ khi cưới nhau cho đến bây giờ. Hai người chung sống bên nhau rất hạnh phúc, không lời qua tiếng lại gây gổ giận hờn nhau bao giờ. 


Gần nửa đêm, nghe chúng tôi nói chuyện bàn tán về tang lễ, má tôi bỗng nhúc nhích tay chân và nhướng nhướng mắt. Em Lan thấy vậy mừng rỡ reo lên "bà ngoại thức rồi con ơi!". Cháu Mai chạy đến bên giường lên tiếng "con nè ngoại, Tú Mai nè, ngoại nhận ra con hông?" Cháu Mẩn cũng hỏi "còn con là ai, ngoại biết hông? Má nói "Ờ ờ biết, mà bây giờ là mấy giờ rồi Lan?" Lan đáp "3 giờ sáng rồi má".  Má kêu lên "Trời đất địa ơi, giờ này mà tụi con còn ở đây rồi mai sáng làm sao đi học? Còn thằng Thành đâu, nó có lại thăm má không mà sao không nghe tiếng nó vậy?"
Thằng em tôi nói "Con theo má hai ngày nay, má cứ ngủ hoài làm sao thấy con được, còn có anh Bé, Chế Hai, con Dung với vợ con nữa nè má". 






Má tôi không phải tỉnh lại luôn mà đó là giây phút hồi dương của một người sắp chết. Má thức dậy nói với con cháu được vài lời sau cuối để rồi hôn mê vĩnh viễn và qua đêm sau thì trút hơi thở cuối cùng...

Trong lúc chờ ngày tống táng, sợ vong linh má lang thang vất va vất vưởng đói lạnh, em Lan dựng tạm một bàn thờ nhỏ để mỗi ngày cúng cơm mời má về ăn với gia đình cho ấm cúng. Chúa nhựt vừa rồi, tôi mua đồ chay tới cúng má, nhìn chỗ má thường ngồi, tôi bất giác ngậm ngùi rưng rưng. Chỉ trước sau có một tuần, tuần trước tôi mang giày mới tới khoe với má, má còn ngồi đó vừa ăn cháo vừa than đau bụng mà tuần này má đã lên bàn thờ, người mẹ thương yêu của tôi đã ra người thiên cổ về bên kia thế giới muôn đời để lại  bao buồn đau thương tiếc cho con cháu không biết đến bao giờ cho nguôi.

Hết kiếp này, má với tôi đã hết duyên nợ mẹ con, liên hệ thâm tình  cốt nhục gì nữa nhưng tôi chắc rằng tôi sẽ nhớ má tôi hằng ngày mãi mãi mỗi khi nấu nướng. Lúc má còn sống, món nào má thích tôi cũng làm cho má ăn. Bây giờ má chết rồi, ngồi nhìn thức ăn mà nghẹn ngào, nuốt sao  cho trôi, ăn sao cho ngon miệng! Đêm đêm tôi thường gọi thăm má, nói chuyện trên trời dưới đất cho má vui, giờ đây má không còn nữa, tôi biết gọi ai để lấp vào nỗi mất mát hụt hẫng trong lòng như rơi xuống vực sâu! Má ơi! Má có nghe không....?

Dẫu sau, tôi rất mừng vì má đã được ra đi trong thanh thản nhẹ nhàng, chết ấm cúng bên cạnh người thân, con cháu quây quần như lời cầu nguyện hằng đêm của tôi với Đức Mẹ Maria trên trời. Xin tạ ơn Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. 



  Người Phương Nam

Tình Say - Đỗ Công Luận

Tình Cảm Nam Nữ Và Bẫy Nghiệp Duyên


Khi ta tiếp xúc với một người nào đó, bất ngờ làm cho ta nhớ nhung, thương yêu tha thiết thì hoặc ta với người đó thực sự có duyên nợ đến đòi nợ mình hoặc đến để trả nợ cho mình hoặc có thể đó là một cái ác nghiệp dẫn dụ ta chuẩn bị bước vào con đường tăm tối, sai lầm để chịu nghiệp báo… Vì sao lại có chuyện như vậy ?

Khi nam nữ gặp nhau ta cảm thấy xúc động mạnh, thường đó là do dòng nghiệp dẫn. Nghiệp duyên dẫn 2 người gặp nhau cho dù 2 người có cách nhau nửa vòng trái đất (có câu: Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ), nghiệp làm tâm ta cảm thấy động chứ không phải như lời bài hát “Lúc đầu gặp em\anh tinh tú quay cuồng, lòng đang giá băng ngập tràn muôn tia nắng…”. Hễ thấy tâm mình động mạnh thì phải biết đó là nghiệp dẫn, thì ta phải lo sám hối, lo tu và tâm phải tỉnh chứ không được để nghiệp xưa cũ đưa đi vào con đường đen tối.

Chứ cảm thấy tâm mình dao động mạnh lên là mình cứ bán sống bán chết chạy theo cái động đó để mà gây tạo tội lỗi và chịu nghiệp báo của dòng nghiệp duyên này, đôi khi có một số trường hợp không làm chủ được thâm tâm nên bị dòng nghiệp duyên này cuốn xa và cứ thế nghiệp đưa đến cho ta tình huống thuận lợi để tạo tội vô cùng to lớn và chịu quả báo vô cùng thảm khốc. Khi ta bị tiếng sét ái tình thì có thể đó là một nhân duyên đời trước nào đó hoặc một ác nghiệp (thiện nghiệp) khởi lên.


Ví dụ, ta gặp một người nào đó, bất ngờ làm cho ta thương yêu tha thiết thì hoặc ta với người đó thực sự có duyên nợ đến đòi nợ (trả nợ) mình hoặc có thể đó là một cái ác nghiệp dụ ta chuẩn bị bước vào con đường tăm tối, sai lầm để chịu nghiệp báo… thường thì hầu hết con người ta không ai nhìn thấu nghiệp báo nhân quả và không thắng nổi nghiệp dụ nên hầu hết chúng ta sẽ bước vào cái bẫy đó. Muốn thắng được nghiệp dụ thì trước tiên con người ta phải thật vững tâm không dao động và đừng tin vào những cảm xúc đó mà tự mình bước vào bẫy của dòng nghiệp, trước những cảm xúc như vậy ta hãy cẩn thận và sau cùng thì phải sám hối, tu thiện, giúp người… và phát nguyện để thắng nghiệp dụ. Vì rằng kiếp sống con người chỉ là một giai đoạn trong dòng chảy luân hồi. Kiếp này nối tiếp kiếp khác, thừa hưởng và kế thừa lẫn nhau.

Con người gặp nhau là bởi chữ DUYÊN, sống và yêu nhau là bởi chữ NỢ. Nhiều cặp vợ chồng đôi lứa đang sống với nhau mà một trong hai người bỗng có tình cảm với người khác (người này lại có duyên nợ của tiền kiếp do nghiệp duyên dẫn đến đòi nợ hay trả nợ), dẫn đến chuyện chia tay là bởi vì người đó bị động tâm không làm chủ được mình và bị dòng nghiệp duyên cuốn trôi nên không thắng nổi bẫy nghiệp (nghiệp dụ) Những người trần sẽ nói người kia là trăng hoa, đểu cáng… Nhưng thật ra có thể đó là người ta đã trả xong hết nợ và lại không làm chủ được hôn nhân nên bị dòng nghiệp duyên cuốn đi và để trả thêm món nợ khác nữa.

Tình duyên thường đó là nợ kiếp trước của ta. Vì tình cảm vợ chồng có sự luyến ái, nhưng khi ta chấp nhận trả là ta lại đi gieo thêm nghiệp duyên mới. Tình cảm vợ chồng kiếp này thực chất chính là tình cảm gia đình của các kiếp trước. Nếu ta có đạo nhãn thì sẽ nhìn thấy những tiền kiếp của ta thì ta sẽ biết người ta yêu kiếp này là người nhà cuả ta của các kiếp trước như: cha, mẹ, anh, chị, em, vợ, chồng, con, cái… Xưa có câu chuyện như sau: Có người bà vì quá thương đứa cháu mình, mà lúc xuôi tay nhắm mắt vẫn không muốn xa cháu. Cháu bà năm đó nhỏ tuổi, rất quấn quýt bên bà. Khi bà chết muốn cứ muốn quay lại chăm sóc đứa cháu. Khi sống bà không tạo tội ác nên chết cũng không phải đọa vào địa ngục mà Bà khởi lên ý niệm này nên dòng nghiệp duyên này có thể quyết định cho bà đầu thai lại và làm vợ cháu bé để sau này chăm sóc nó suốt đời. Do vậy ta thấy tình cảm gia đình khiến ta vướng mắc nhiều kiếp mà không sao thoát ra được.

Ta lập gia đình, sinh con đẻ cái rồi lúc chết lo lắng không biết mình chết rồi thì con mình ai lo… Vì ý niệm ấy có thể dòng nghiệp duyên lại cho đi đầu thai lại để tìm cách chăm sóc nó. Do vậy, nói tình yêu càng trả chỉ càng gieo. Nên ta không nên quá yêu thương luyến tiếc là vậy. Nếu có trả thì nên trả bằng hình thức làm phước… (như giúp người. từ thiện…) ta trả món nợ này cho đời thì vẫn ít đau khổ hơn là việc nợ nần nhau nhiều mà trả bằng sống đời vợ chồng hay con cái. Còn hiện tượng nhớ thương ai đó thực chất là cái bẫy của Nghiệp. Cảm giác đó không có thật, chỉ dẫn dụ ta để ta rơi vào cuộc sống vợ chồng để rồi trả nợ nhau. Vợ chồng lấy nhau thực chất đa số là để trả nợ nghiệp còn để hưởng phước thì thấy rất hiếm, nếu nợ nần nhau mà cả 2 người đều không rỏ tường tận của dòng nghiệp duyên thì Sống chung để làm khổ nhau và hành hạ nhau thôi nhưng nếu có nợ nần nhau mà cả 2 hiểu được dòng nghiệp duyên này mà sống có trách nhiệm thông cảm, yêu thương… lẫn nhau nhau thì có thể hoá giải được nợ nần và nghiệp duyên này.

Nhưng mấy ai lấy nhau mà sinh con đẻ cái mà cả gia đình đều hạnh phúc thì đó thiện duyên của tiền kiếp của họ có thể do cả nhóm người cũng làm các điều thiện lành giúp người và không nợ nần nhau từ tiền kiếp nên chung lại làm 1 gia đình để hưởng phước và ngược lại. Nhưng thường hai người lấy nhau không khổ vì chồng hay vợ thì cũng khổ vì con cái. Nếu ở đây có ai chưa lập gia đình mà chưa hiểu hết nghiệp duyên (nhân quả – nghiệp báo) thì xin đừng dại dột mà lập gia đình sớm. Còn nếu ta muốn thoát khỏi tình trạng yêu đương thương nhớ hiện giờ thì ta phải hướng thiện, giúp người, làm điều thiện lành…, sám hối… và phát nguyện như sau: “Từ trong vô minh vô lượng kiếp nợ nần ai hay đã lỡ hứa hẹn thề non hẹn biển với nhìu người xin Ngài (đấng mà bạn tôn thờ như Phật, chúa giêsu…) cho con sám hối xoá hết những lời ước hẹn đó để con không phải rơi vào bẫy nghiệp duyên của cuộc sống vợ chồng đau khổ”. Nên nhớ khi ai nói lời yêu thương mình và khiến mình yêu thương họ thì thật ra họ đang đến đòi nợ mình. Nợ nần nhau mà Lấy nhau về mà cả 2 chưa hiểu hết nghiệp duyên để yêu thương và thông cảm cho nhau mà cứ sống rồi để bị dòng nghiệp cuốn thì đa số là để hành hạ nhau là chính thôi..! Sự nhớ nhung, yêu mến ai đó ví như con mồi gắn vào móc câu để bẫy con cá. Một khi con cá cắn mồi câu rồi thì khổ cả đời. Nên mong những ai chưa cắn câu, thì ngay bây giờ hãy sám hối, hướng thiện, giúp người… và phát nguyện… và hiểu thêm về dòng nghiệp duyên này mà sống yêu thương và thông cảm với nhau để không bị dòng nghiệp nó cuốn theo.

Kết: Nếu bạn đã hiểu về dòng nghiệp duyên này rồi muốn tránh bẫy nghiệp (nghiệp duyên) đòi nợ bạn thì rất đơn giản. Trước khi lấy vợ/chồng (hoặc đã lấy vợ/chồng rồi) thì ngay từ bây giờ bạn Hãy thành tâm sám hối, hướng thiện, giúp người và làm thật nhiều điều thiện lành… và phát nguyện trước đấng mà bạn tôn thờ để từ đó hãy sống với nhau để thông cảm và yêu thương lẫn nhau thì gia đình bạn có thể sẽ tránh được bẫy nghiệp này để từ đó sẽ đưa gia đình bạn đến một cuộc sống gia đình vui vẻ và hạnh phúc..!
*Có thành tâm thì mọi chuyện sẽ ổn..!

Theo tinhtam
http://ins.dkn.tv

Monday, January 15, 2018

Xin Gửi Một Lời Chào Vĩnh Biệt Đến Việt Nam: Quê Hương Đã Mất - Nguyễn Lương Tuyền (Danlambao)


Lịch sử hơn 4000 năm của dân tộc Việt là lịch sử của những thành công, chiến thắng của Tổ tiên trong các cuộc chiến đấu chống ngoại xâm để tồn tại, giữ vững đất nước. Có lần bị ngoại bang đô hộ trong hơn 1000 năm nhưng dân Việt, tuy bị ảnh hưởng về văn hóa rất nặng nề của hàng ngàn năm bị ngoại bang đô hộ, vẫn bảo tồn được độc lập, tự chủ. Những kẻ phản quốc ''cõng rắn cắn gà nhà'' như Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống... bị nguyền rủa muôn đời, ''lưu xú vạn niên''

Thể chế điên loạn Cộng Sản Mác Xít- Lêninit đã tàn phá thế giới kể cả Việt Nam. Trong chiến tranh ''gọi là chống Pháp dành độc lập nhưng thực tế là chiến tranh để bành trướng Chủ Nghĩa CS'', Hồ Chí Minh và Đảng CSVN, đã dựa vào Khối CS Quốc tế, nhất là Trung Hoa Cộng Sản. Chắc chắn Hồ Chí Minh và Đảng CSVN cũng nhìn ra cái nguy mất quê hương về tay người Trung Hoa Cộng Sản, nhưng đối với người CSVN là những người tin tưởng vào một thế giới Cộng Sản đại đồng, không biên giới quốc gia, nghĩa vụ quốc tế quan trọng hơn số phận của quê hương rất nhiều. CSVN nguyện làm những tên lính xung kích trong tiến trình nhuộm đỏ cả thế giới, trong đó có VN. Cuộc chiến gọi là ''chống Pháp, dành lại độc lập cho quê hương'' chỉ thuần là một cuộc chiến tranh diệt chủng (từ 2 tới 5 triệu người Việt bị chết), giết chết nền văn hóa cổ truyền của dân Việt để thay vào đó là một nền văn hóa Cộng Sản, một nền văn hóa đi ngược lại văn hóa cổ truyền của dân tộc Việt. Văn Hóa Mác Xít được áp đặt lên người dân Việt bằng bạo lực, bằng dối trá, bằng máu lửa, bằng giết chóc hàng trăm ngàn, hàng triệu người Việt vô tội từ Nam chí Bắc từ những năm 1930 tới tận bây giờ...

Tháng 4 năm 1975, với viện trợ hùng hậu của CS Quốc Tế cộng (+) với sự đồng lõa của các thành phần phản chiến tại Hoa Kỳ, kể cả Đảng Dân Chủ Hoa Kỳ, CS đã thành công trong việc Cộng Sản hóa Miền Nam Việt Nam.

Cuộc hành trình đi vào một cõi vô định của Người Việt, do người CSVN điều hành, được bắt đầu. Chúng ta thực sự mất quê hương kể từ ngày 30 tháng 4 năm 1975. Cả quê hương Miền Nam, trong một sớm một chiều, biến thành 1 trại tù mông mênh trong đó, rải rác trên toàn quê hương là hàng trăm các ''trại tù nhỏ được CSVN gọi là các trại cải tạo'' để bắt nhốt, cầm tù hàng triệu Quân, Cán, Chính của Chánh Phủ Miền Nam quốc gia, không Cộng Sản. Hàng trăm ngàn người đã bỏ mình một cách tức tưởi trong các nhà tù này. Điều trớ trêu cho CSVN là: ngay sau khi ''chiến thắng'', mối rạn nứt giữa VNCS và ''đàn anh TC môi hở răng lạnh'' được bắt đầu ngay sau cái mà CSVN gọi là ''giải phóng Miền Nam thành công''. Cao điểm của ''mối bất hòa'' giữa 2 nước ''anh em'' là trận chiến biên giới xảy ra vào đầu năm 1979. Hai phía cùng bị thiệt hại nặng nề. Trước khi trận chiến ở biên giới xảy ra, TC đã rút hết đoàn chuyên viên kỹ thuật về nước, ngưng hết các chương trình viện trợ. Sau trận chiến quân sự là trận chiến dùng ''võ mồm'' giữa 2 nước. Tờ báo Sự Thật của CSVN liên tục tố cáo mộng bá quyền của TC. Một cuốn Bạch Thư tố cáo Trung Cộng ''đã chơi xấu'' VNCS kể từ thập niên 50 tới mãi tận những năm 1980. Thậm chí trong Hiến Pháp của VNCS, ban hành vào tháng 12/1980, có ghi rõ: TC là kẻ thù của của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. TC cũng vận dụng tất cả các phương tiện truyền thông để ''nạt sát không tiếc lời người em bất nghĩa, phản bội'' Các cơ quan truyền thông của TC trong đó có tờ báo Hoàn Cầu Thời Báo, lớn tiếng đe dọa CSVN là TC sẵn sàng ''dậy cho VN'' một bài học nữa.

Sau chiến tranh biên giới Việt-Trung năm 1979, TC đã nhận ra sự kém cỏi của Giải Phóng Quân Trung Quốc (People Army of Liberation, PAL) nên quyết định canh tân quân đội. Cho tới nay, không ai có thể chối cãi được sự thật: TC đã trở thành 1 cường quốc về kinh tế, quân sự. Họ đã vươn cánh tay dài của họ vào các lục địa Phi Châu, Châu Mỹ Latinh và vài nước ở Châu Á. Hiện nay, TC và Hoa Kỳ là 2 nước có Ngân Sách QP cao nhất thế giới, trên 150 tỷ Mỹ Kim cho năm 2017.

Thế giới Cộng Sản tan rã vào năm 1990-1991. Làn sóng của cơn Đại Hồng Thủy thải trừ các chế độ CS, tưởng chừng như sẽ quét sạch bọn CSVN, quê hương sẽ thuộc về toàn thể dân Việt, không phải là của riêng của CSVN nữa. Nhưng CSVN đã tìm đủ mọi phương cách để sống còn. CSVN bèn ngả theo Kinh Tế Tư Bản nhưng kèm theo cái đuôi: ''theo định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa''. Đó là một cái đuôi ''tối mò mò như đêm 30'' khiến chính các đại đồng chí CS trong Bộ Chính Trị ở Hà Nội cũng ''ù ù cạc cạc'', không làm sao giải thích được. Ngoài ra CSVN còn gian manh, bịa ra cái gọi là tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ Nam cho Đảng CSVN, làm cái phao cho các ''đồng chí'' bám vào để sống còn, tuy rằng khi còn sinh tiền, Hồ Chí Minh chưa bao giờ nhận mình có tư tưởng. Các phát biểu của họ Hồ trong quá khứ được các đồng chí tận dụng, hoa hoè hoa sói vào và hô hoán lên đây đích thực la tư tưởng của Hồ Chí Minh. Những người cầm đầu của Đảng Cộng Sản Việt Nam, sau khi bàn bạc rất kỹ lưỡng, đã quyết định ''đầu hàng Trung Cộng - kẻ thù xưa'', dựa vào TC để Đảng của họ sống còn trước cơn ''sóng lớn'' đang nhận chìm hết các Đảng CS ở Đông Âu. Các ''đại đồng chí '' quan niệm: ''còn Đảng, còn ta''. Nguyễn Văn Linh là người cầm đầu Đảng CSVN vào thời điểm đó (Tổng Bí Thư) đã có câu phát biểu nổi tiếng như sau: ''đi với Mỹ thì mất Đảng còn đi với Trung Quốc thì mất nước. Nhưng thà mất nước còn hơn là mất Đảng"

Hội Nghị Thành Đô diễn ra vào các ngày 3,4 tháng 9 năm 1990 đã được CSVN ký kết với TC. (Thành Đô là Thủ phủ của Tỉnh Tứ Xuyên của Trung Hoa, một tỉnh có vị trí ở miền giữa nước Tầu như hình dưới đây) sau nhiều cuộc thương thảo giữa CSVN và TC. Dĩ nhiên trong các cuộc điều đình, VNCS luôn luôn ở thế yếu.

Tỉnh Tứ Xuyên và Thủ phủ Thành Đô (nguồn Internet)

Phía VNCS có Nguyễn Văn Linh (Tổng Bí Thư); Đỗ Mười là CT Hội Đồng Bộ Trưởng tức Thủ Tướng; Phạm Văn Đồng, Cố Vấn

Phía Trung Cộng được đại diện bởi Tổng Bí Thư Giang Trạch Dân và Thủ Tướng Lý Bằng.

Thỏa Ước Thành Đô được TC, Cộng Sản Việt Nam dấu kín nội dung. Nhưng từ năm 1990 tới nay, các rò rỉ tiết lộ theo thời gian, đã cho thấy phần nào nội dung của Mật Ước Thành Đô, mà điểm chánh là: Cộng Sản Việt Nam đã dâng hiến nước Việt cho Trung Hoa Cộng Sản theo từng giai đoạn như sau:

* Khoảng thời gian 30 năm, từ năm 1990 tới năm 2020, là khoảng thời gian Cộng Sản Việt Nam ''thu xếp nội bộ(!)'', giải quyết những tranh chấp, bất đồng trong nội bộ Việt Nam.

* Khoảng thời gian 20 năm từ 2020 cho đến 2040 là thời gian Việt Nam VN trở thành Đặc Khu Tự Trị trong Đại Gia Đình Các Dân Tộc Trung Hoa.

* Khoảng thời gian từ năm 2040 cho đến năm 2060, la thời gian Việt Nam chính thức trở thành 1 phần của nước Đại Hán. Tên nước Việt Nam sẽ hoàn toàn không còn hiện hữu trên bản đồ thế giới.

Hội Nghị Thành Đô năm 1990, trong dịp này Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười và Phạm Văn Đồng đã bán linh hồn cho loài quỷ dữ.(nguồn Internet)

Chiến lược chậm mà chắc của TC trong việc sáp nhập VN vào nước Đại Hán
Trong quá khứ, Trung Hoa đã nhiều lần muốn chiếm trọn nước Việt bằng các chiến lược cổ điển:

- Dùng quân đội tiến chiếm VN là hành động đầu tiên.

- Một khi đã chiếm được VN, người Tầu bắt đầu đặt các hệ thống cai trị bằng cách đặt các quan chức người Tầu. Lực lượng quân sự đóng tại VN sẵn sàng dẹp tan các cuộc nổi dậy của dân Việt.

- Văn hóa Đại Hán sẽ được du nhập vào VN để đồng hóa dân Việt về phương diện văn hóa.

Các cuộc xâm lăng, chiếm nước dưới các hình thức đó đều thất bại trước sức chống đối kiên cường của dân Việt.

Người Tầu ở thế kỷ này khôn hơn, nham hiểm hơn, thâm độc hơn tổ tiên của họ nhiều. Cuộc chiến biên giới Việt-Trung năm 1979 đã cho quân dân Trung Cộng một bài học. Hiện nay, TC đã và đang xâm lược VN bằng một chiến lược vô cùng thâm độc: Các chiến lược bao vây, xâm nhập, di dân cũng như đô hộ bằng kinh tế, bằng văn hóa.... được tiến hành song song khiến VNCS tứ diện thọ địch:

TC đang chiếm đoạt nền kinh tế của VNCS.
* Về phương diện đầu tư vào VN của các công ty ngoại quốc: hơn 90% các công ty trúng thầu là các công ty đến từ Trung Hoa. Họ chỉ dùng nhân công Tầu đến từ Trung Hoa.

* Hàng hóa của TC nhất là các hàng độc hại, các hàng hóa gây ra bệnh Ung Thư đang tràn ngập VN. Người ta không mấy ngạc nhiên khi thấy VN đang là nước có tỷ lệ bệnh Ung Thư cao nhất thế giới.

Người Tầu đang tràn ngập VN, từ Biên giới phía Bắc tới Mũi Cà Mau.
Người Tầu đã tràn ngập quê hương VN, từ Nam Chí Bắc Hàng ngàn người Tầu đã lập nghiệp ở Tây Nguyên, với lý do là khai thác Bauxít theo đúng hợp đồng mà nguyên Thủ Tướng VNCS Nguyễn Tấn Dũng đã ký với Trung Cộng. Các phố Tầu mọc lên như nấm, không kể những vùng được VNCS cho Tầu thuê dài hạn hàng trăm năm. Các tô giới Tầu đã hành xử như 1 quốc gia Tầu trong một nước Việt. Người Việt bị cấm lai vãng đến các tô giới của Tầu như Tô giới ở Vũng Áng, Hà Tĩnh; tô giới Tầu ở Đà Nẵng...

Tô giới Tầu ở Vũng Áng, Hà Tĩnh. (nguồn Internet)

Người Tầu tự do ra vào Việt Nam như ''đi chợ'' vì kể từ tháng 9 năm 2004, VNCS đã ký kết với TC, cho phép người Tầu sang VN hay người Việt sang Tầu, không cần bất cứ một thứ giấy tờ nào, không cần Thông Hành (passport), không cần giấy tờ thị thực visa). Điển hình là họ qua biên giới thật đông đảo như hình dưới đây chụp hôm 1/10/2017 tại cửa khẩu Móng Cái, Quảng Ninh ở gần Hải Phòng.

Người ta không biết, một cách chính xác, có bao nhiêu người Tầu hiện định cư ở VN.

Tầu ồ ạt kéo vào VN qua cửa khẩu Mong Cái. Du khách hay di dân đây? (nguồn Internet)

 Trung Cộng đang vây chặt Việt Nam

Về phương diện chiến lược, TC đang vây chặt Việt Nam:
* Phía Bắc là biên giới giữa 2 nước Việt-Trung. Sau chiến tranh biên giới năm 1979, TC đã chiếm Ải Nam Quan, một phần của Thác Bản Giốc, miền núi Lão Sơn và một giải đất của quê hương ở vùng biên giới. Ải Nam Quan được TC gán cho 1 cái tên mới là Hữu Nghị Quan.

* Phía Đông la Biển Đông. Vùng biển của VN đã bị Hải Quân TC chiếm đóng, khóa chặt. Tầu đánh cá của VN bị cấm đoán, ngư dân bị Tầu giết hại. Biển Đông đang là nguồn tranh chấp, một lò thuốc súng giữa Tầu và Mỹ, các nước Đồng Minh.

* Phía Tây đã hoàn toàn do TC kiểm soát kể từ khi VNCS cho TC vào khai thác Bauxít ở Tây Nguyên. Với các đập nước ở thượng nguồn của sông Cửu Long, nằm sâu trong nước Tầu, đã được TC dùng như một loại võ khí lợi hại: võ khí Nước. Lưu lượng nước của sông này bị TC kiểm soát dễ dàng như TC đã tạo ra hạn hán, ngập mặn ở đồng bằng sông Cửu Long của Miền Nam nước Việt. Điều đó rất quan trọng cho sự sống còn của các nước ở hạ lưu của sông. Lưu lượng nước của sông Cửu Long xuống thấp khiến nước biển tràn ngập đồng bằng sông Cửu Long. Điều này ảnh hưởng rất rất nặng nề lên việc canh nông, trồng trọt ở Châu thổ Sông Cửu Long, vốn là 1 vựa lúa của Miền Nam, của thế giới.

Quả thực VN đang bị TC vây chặt từ trong ra ngoài. VN như con cá đang nằm trên mặt thớt của TC. Thỉnh thoảng truyền thông của TC lại tung ra các bài báo, đại loại như bài ''đánh chiếm Việt Nam trong 30 ngày'', không ngoài mục đích reo rắc nỗi sợ hãi, bất an lên dân Việt. Mặt khác, TC còn có Đảng CSVN đồng lõa, tiếp tay cho hành động xâm lăng của họ. Tại VN các công cuộc biểu tình tự phát của người dân chống TC, đều bị CSVN nghiêm cấm và đàn áp dã man theo lệnh quan thầy ở Bắc Kinh..

Những âm mưu thâm độc để hủy diệt văn hóa dân tộc Việt với sự tiếp tay của bọn phản quốc: Cộng Sản Việt Nam.
Để đồng hóa dân Việt, việc xóa bỏ Văn Hóa của giống Lạc Hồng là mối quan tâm đặc biệt của kẻ thù Đại Hán và của bọn phản quốc ''cõng rắn cắn ga nhà'' Cộng Sản Việt Nam.

Ngay từ những năm 40's, Hồ Chí Minh đã:

* Tiến hành các chiến dịch, chương trình diệt chủng dân Việt bằng các chiến dịch đẫm máu như Công Cuộc Cải Cách Ruộng Đất... rập khuôn của công cuộc cải cách ở bên Tầu.

* Thay đổi nền văn hóa của dân Việt bằng một nền văn hóa của CS. Một thứ văn hoa của ăn gian, nói dối, tàn bạo, mất hẳn nhân tính của con người; một thứ văn hóa của ''con tố cha, vợ tố chồng'', không còn luân thường đạo lý.

Hiện nay, tiếng Tầu là 1 trong 4 ngoại ngữ chính, được giảng dậy cho trẻ em Việt Nam

Mới đây, trong chiều hướng thăm dò dư luận trong tiến trình làm biến mất ngôn ngữ của Việt Nam, một (1) quả ''bom bẩn'' (a dirty bomb) đã được tung ra. Đó là Dự Án Cải Cách Tiếng Việt của Bùi Hiền. Ông Bùi Hiền, được xưng tụng có học vị Tiến Sĩ. Theo chính ông TS Hiền, Dự án đã được ông nghiên cứu kỹ trong 22 năm. Xin mở 1 dấu ngoặc để nói về học vị TS ở VNCS: ai cũng có quyền ''đeo'' học vị TS mà không cần học hành, khảo cứu cho mất công (có lẽ VN CS là nước duy nhất trên thế giới có bằng TS mà không cần đi học). Ngay cả ông TBT Trọng Lú là 1 TS tốt nghiệp 1 ngành hơi lạ tai: ngành Xây Dựng Đảng (?), hay ông Chủ Tịch nước Trần Đại Quang ''đeo'' bằng TS từ lúc làm Đại Tướng, Bộ Trưởng Bộ Công An; các quan chức trong Bộ Chánh Trị đều có học vị TS, ngoại trừ Bà Tòng Thị Phóng, người thiểu số, chỉ có bằng Cao Học. Chúng ta nghi ngờ các bằng TS này kể cả bằng TS của Ông Bùi Hiền.

Trở lại với Dự Án Cải Tổ Tiếng Việt của ông Bùi Hiền, được in thành sách dầy hơn 2000 trang.

Trong Dự Án, Ông Bùi Hiền đề nghị:

- Bỏ chữ Đ trong mẫu tự

- Bổ xung thêm một số chữ cái có gốc Latinh như W, F, J, Z

- Thay đổi giá trị âm vị của 11 chữ cái hiện có như sau: C= Ch, Tr; D= Đ; G= Gh; F= Ph; K=C,Q,K; G- Ng, Ngh; R=R; S=S; X=Kh; W= Th; W=Th; Z= d,gi,r.

Theo ông TS Bùi Hiền, chữ nghĩa mới chỉ cần học 1 ngày là thông suốt ngay.
Nếu viết theo phương pháp của ông Bùi Hiền thì tiếng Việt tương lai sẽ được viết như sau, xin mời bạn đọc xem:

Tùy bạn đọc phê phán sau khi ''cố gắng'' đọc chữ Việt cải cách của Ông GS TS Bùi Hiền (nguồn Internet).

Tiến sĩ (?) Bùi Hiền (nguồn Internet )

Các phản hồi chống đối Dự Án Tiếng Việt Cải Cách ''nổ'' ra rầm rộ, từ mọi nơi trên thế giới, không chỉ ở VN. Thấy phản ứng bất lợi, CSVN, qua Bộ Giáo Dục và Đào Tạo đã ra thông cáo không chấp nhận Dự Án này của Ông TS Bùi Hiền.

Dư luận chắc chắn rằng:

* Nếu Dự Án đem ra áp dụng, toàn dân -trong một sớm một chiều- sẽ trở thành mù chữ hết, phải đi học lại.

* Các tác phẩm văn chương khoa học... sáng tác từ khi có tiếng Việt, sẽ bị vất đi hết.

* Các văn thư, công văn của các cơ quan công quyền sẽ phải được viết lại theo tiếng Việt cải cách của ông TS Bùi Hiền.

Nhưng hậu quả thâm độc là một ''mảng'' lớn, rất lớn của Văn Hóa của dân Việt sẽ bị khai tử. Đó là một bước lớn của tiến trình biến người Việt thành người Hán.

Hai mươi hai (22) năm nghiên cứu để rồi cho ra đời ''một quái thai'' không giống ai. Quả là ''trái núi đẻ ra con chuột (la montagne accouche d'une souris)'', 1 con chuột chù hôi hám.

Người ta tự hỏi ai đứng đằng sau quả bom bẩn (dirty bomb) này? Hỏi tức là trả lời.

Thay lời kết.
Trong suốt chiều dài hơn 4000 năm của lịch sử dân tộc, chưa bao giờ dân Việt lại phải đối diện với nỗi nguy mất nước, tuyệt chủng, như hiện nay. Trong tiến trình mất quê hương vào tay ngoại bang, chưa bao giờ dân Việt lại phải đương đầu với nhiều Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống... như tình thế hiện nay. Hàng ngàn, hàng vạn, vạn Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống... của thời đại này, những tên phản bội CSVN đang tiếp tay dâng hiến đất nước cho một kẻ thù truyền kiếp, vô cùng nham hiểm, độc ác. CSVN đang ''nối giáo cho giặc'' tiêu diệt dân Việt, tiêu diệt nền văn hóa cổ truyền ngàn đời của dân tộc để dân Việt mau chóng biến thành người Hán, quê hương mau chóng biến mất trên bản đồ thế giới. Chiến tranh diệt chủng, thay đổi văn hóa, thay đổi chữ nghĩa văn tự... là những bước đưa dân tộc vào con đường diệt vong.

Quê hương đã mất hoàn toàn vào tay Người Cộng Sản ngày 30 tháng 4 năm 1975. Người Việt tự do phải bỏ nước ra đi bất chấp những hiểm nguy chết người trên đường vượt biên, vượt biển. Họ đang sống tại hàng trăm quốc gia thuộc thế giới tự do. Nay quê hương sắp trở thành một phần đất của ngoại bang với sự tiếp tay của Người Cộng Sản Việt Nam. Số phận của chúng ta là số phận của những kẻ mất quê hương như người Arméniens, người Kurdes... lang thang khắp nơi trên quả địa cầu, lòng không ngớt tưởng nhớ về một quê hương đã mất.

Con chim, trước khi chết, hót lên những tiếng hót bi thương, ai oán. Người Việt, tại khắp mọi nơi trên thế giới, chỉ còn biết nuốt lệ đau thương khi nghĩ đến quê hương đã mất, nay đã ''ngàn trùng xa cách''.

Tháng 12 năm 2017, Montréal,CANADA